TUỔI TRẺ THPT CHƠN THÀNH
TỈNH BÌNH PHƯỚC

"Không có việc gì khó - Chỉ sợ lòng không bền - Đào núi hay lấp biển - Quyết chí ắt làm nên"

Giới thiệu chung
Cuộc Đời hoạt động
Những câu nói của Bác
Tư tưởng HỒ CHÍ MINH
Bản Di Chúc
Tác phẩm của  Bác
Phong cách Bác Hồ
Học và Làm
Album Ảnh Bác
Phim tài liệu về Bác
Chuyện Bác Hồ
Thơ về Bác
Lời bài hát về Bác
Nghe Nhạc về Bác
Hát Karaoke

Soạn: AM 531065 gửi đến 996 để nhận ảnh này

Bác Hồ với Cụ Phan Châu Trinh

 

Ngày 5/6/1911, Nguyễn Tất Thành với cái tên là Ba rời Sài Gòn và ngày 15/7/1911 đến cảng Lơ Ha-vơ-rơ (Le Havre - Pháp), còn Phan Châu Trinh rời Sài Gòn ngày 1/4/1911 và đến Pháp vào ngày 27/4 cùng năm, ngụ tại Pa-ri.

Cảng Le Havre (Pháp) - nơi Nguyễn Tất Thành đến sau khi rời Sài Gòn ngày 5/6/1911

Khoảng cách giữa Lơ Ha-vơ-rơ và Pa-ri – nơi cụ Phan đang sống – chỉ có hơn 100 cây số, đi lại dễ dàng… Chắc chắn trong dịp này Người đã tranh thủ đến Pa-ri gặp cụ Phan, làm quen với những người quanh Cụ, và đặc biệt để bàn bạc với Cụ về hướng sống và học tập. Và có thể không phải chỉ đến một lần…

Có ba bức thư với thủ bút của Tất Thành mà cụ Phan còn giữ được đem về nước năm 1925 và gia đình đã gửi ra Việt Bắc tặng Trung ương trong kháng chiến chống thực dân Pháp, nay lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh… Có lẽ do yêu cầu bảo mật, các thư đều không được ghi ngày tháng nhưng có thể phán đoán bức thư sau đây đã được viết vào dịp trên. Nguyên văn như sau:

Hy Mã nghi bá đại nhơn,

Cách đây không tiếp được tôn tín, không hay Bác hành chỉ thế nào và sự thể bên ta thế nào? Và cháu muốn biết như cháu có thể bên ta thế nào? Và cháu muốn biết như cháu có thể gặp Bác trước lúc Bác đi hay không, vì cháu rất cần một ít lời tôn hội, xin Bác trả lời liền cho cháu vì chừng trong tuần lễ cháu sẽ xuống tàu “đi chưa biết đâu”. Kính chúc Bác, M. Trường và em Dật và các đồng bào yên hảo”.

C.Đ* Tất Thành

10. orchard Place

Southampton England

Theo lời thư trên đây thì: Tất Thành biết rõ tình hình cụ Phan đang bị Bộ Thuộc địa ép phải đi khỏi Pa-ri nên yêu cầu Cụ trả lời ngay để đến gặp chỉ trong vòng một tuần lễ… Do đó có thể đoán là mặc dù ghi địa chỉ ở Anh nhưng lúc đó Tất Thành không phải ở Anh mà thực ra đang ở không xa Pa-ri, có thể ở nhà chủ tàu tại Sanh A-đơ-ret-xơ (Saint-Adresse), ngoại ô Lơ Ha-vơ-rơ chỉ cách Pa-ri hơn một trăm cây số. Lời thăm hỏi rất thân tình về mọi người ở quanh Phan Chu Trinh lúc đó, kể cả luật sư Phan Văn Trường nói lên họ đã gặp gỡ nhau rồi.

Phan Châu Trinh - biệt hiệu Hy Mã
(1872-1926)


Sau thư trên có thể đã có cuộc gặp gỡ giữa cụ Phan Châu Trinh và Tất Thành tại Pa-ri trước chuyến đi xa bằng tàu biển.

Theo phán đoán thì thời đó nơi dừng chân của Bác Hồ sau các chuyến đi là cảng Lơ Ha-vơ-rơ. Vì mấy nguyên nhân: đó là nơi dừng lâu nhất của tàu La-tút-sơ Tơ-rê-vin, có nhà của chủ tàu và nhiều bạn bè quen biết trên tàu có thể làm nơi tá túc; nơi đó có thể lánh sang đất Anh thuộc chính quyền Hoàng gia vốn lúc này không mấy thân thiện với Pháp (như thể hiện trong năm 1915, Chính phủ Anh không đáp ứng yêu cầu của Pháp soát xét nơi ở của Tất Thành để tìm các thư phúc đáp của Phan Châu Trinh, hoặc cả sau này, khi Chính phủ Hoàng gia ký lệnh thả Nguyễn Ái Quốc tại Hồng Kông năm 1931…).

Cần khám phá châu Mỹ và nước Mỹ đang thời kỳ phát triển mạnh mẽ, Tất Thành đã lên làm việc ở một chiếc tàu đi Nam Mỹ và Bắc Mỹ. Anh đã dừng lại ở Niu-Yoóc, lên bờ để làm thêm kiếm sống, viết thư về nước nhờ tìm tin, địa chỉ của cha, và đã gặp đại diện phong trào yêu nước Triều Tiên tại Mỹ và học tập kinh nghiệm đấu tranh của họ…

Nhưng Tất Thành không ở Mỹ lâu, trong khoảng năm 1913 Người đã trở về Lơ Ha-vơ-rơ, cùng bàn bạc với cụ Phan và chuyển sang ở Anh, Tất Thành đã gửi bức thư sau cho cụ Phan:

“Hy Mã nghi bá đại nhơn,

Cháu kính chúc Bác, em Dật và ông Trang, mấy anh em ta ở Pa-ri đều mạnh giỏi. Nay cháu đã tìm nơi để học tiếng. Mấy bốn tháng rưỡi nay thì chỉ làm với Tây, nói tiếng Tây luôn. Tuy ở Anh nhưng chẳng khác gì ở Pháp và ngày tháng chỉ lo làm cho khỏi đói chứ chẳng học được bao nhiêu. Cháu ao ước rằng 4,5 tháng nữa khi gặp Bác thì cháu sẽ nói và hiểu được tiếng Anh nhiều nhiều.

Bên ta có gì mới không? Và nếu Bác dịch xong mấy hồi rồi xin Bác gởi cho cháu. Chuyến này Bác sẽ đi nghỉ hè ở đâu?

Nay kính

Cuồng Điệt Tất Thành

Crayton Court Hotel

West Ealingw

London

Câu cuối thư hỏi về vấn đề đi nghỉ hè theo tập quán ở Phương Tây và không nói gì đến không khí chiến tranh, cho phép ta đoán thời gian viết thư khoảng giữa năm 1913.

Câu “Xin gởi mấy hồi sau” của một bản dịch chắc là của tập Giai nhơn kỳ ngộ mà Tất Thành đã đọc “mấy hồi trước” trong một chuyến đến thăm cụ Phan trước đó.

Ở Anh mà làm việc với người Pháp và nói tiếng Pháp, có thể là với sự gởi gắm của bạn bè Pháp, Tất Thành đã vào làm việc trong ê-kíp hầu hết là người Pháp của vua bếp Ê-xcốp-phi-e.

Với lời ước hẹn “4,5 tháng nữa lúc gặp Bác cháu sẽ…” có thể thấy rõ hơn trong tình hình Bác Phan khó di chuyển vì bị kiểm soát, từ Anh, Tất Thành có thể đã có nhiều cuộc hẹn đến gặp Bác tại Pa-ri…

Ngoài hai bức thư trên, cụ Phan còn giữ được một cái “các” của Cuồng Điệt Tất Thành gửi từ một địa phương tên là “Xu-phơ-ra-rat” mà tập sách Hồ Chí Minh, biên niên tiểu sử xác định là ở Anh. Nội dung là một bài thơ tám câu bảy chữ nói lên cảm xúc của bản thân với tác phẩm: “Giai nhân kỳ ngộ”, Cụ Phan đã phóng tác…

Lời cuối thật thắm thiết “Hy Mã nghi bá đại nhơn thấu Cuồng Điệt”.

Có một bức thư thứ tư của Tất Thành do bà Thu Trang tìm được bản dịch tiếng Pháp ở thư khố Ô-đi-nô của Bộ Ngoại giao Pháp đã dịch lại như sau:

“Kính gởi Nghị bá đại nhơn

Tiếng súng đã rền vang và thây người đã phủ trên đất. Năm cường quốc đã vào vòng chiến và chín nước đang đánh nhau. Cháu chợt nhớ đến thư cách đây mấy tháng đã viết về cơn giông bão này. Định mệnh sẽ dành cho chúng ta nhiều bất ngờ và không thể nói trước ai sẽ thắng…

Các nước trung lập còn đang lưỡng lự và các nước tham chiến chưa rõ được ý họ. Tình hình như vậy ai nhúng mũi vào thì chỉ có thể đứng về phía này hoặc phía kia. Hình như người Nhật có ý nhúng tay vào. Cháu nghĩ trong vòng ba, bốn tháng nữa số phận châu Á sẽ thay đổi, và thay đổi nhiều. Mặc kệ những kẻ đang đánh nhau và bạo động, phần chúng ta hãy cứ bình tâm.

Xin gởi lời thăm Nghi bá và em Dật. Xin trả lời cháu về địa chỉ sau đây:

Nguyễn Tất Thành

Số nhà 8

Stenphen Totterham Rd. London”.

Thư trên được viết khi cuộc chiến đã diễn ra ác liệt. Nhưng theo tài liệu sưu tầm được thì Phan Châu Trinh cùng với Phan Văn Trường đã bị bắt ngày 14/9/1914, chỉ hơn một tháng sau khi chiến tranh bắt đầu. Như vậy có thể là Tất Thành đã viết thư khi chưa biết cụ Phan bị bắt và thư này đã bị cơ quan điều tra lấy được, cho dịch và gửi cho Bộ Ngoại giao.

Ngoài ra, Báo cáo kết thúc vụ án của Dự thẩm tòa án binh Ca-ron viết rõ là “Soát nhà Phan Châu Trinh đã lấy được nhiều thứ rất khả nghi trong đó có các thư của Tất Thành ở số 8 đường Stenphen Road – Totterham ở London, đã gửi công hàm cho Chính phủ Anh nhờ soát nhà Tất Thành nhưng không được phía Anh đáp ứng”.

Trong biên bản thẩm vấn Cao Đắc Minh với tư cách nhân chứng, Ca-ron có đưa ra một thư và Đắc Minh đã khẳng định đó là thư Tất Thành trả lời cho Cụ Phan.

Trong bức thư bà Thu Trang tìm thấy được ở thư khố Ô-đi-nô, Tất Thành cũng nhắc đến thư viết về “cơn dông bão” chắc cũng ở trong số thư đã bị lấy khi soát nhà Cụ Phan.

Các tài liệu trên cho thấy mối quan hệ thân tình giữa Bác Hồ và cụ Phan ngay từ trong nước và sự gắn bó giữa hai vị trong những năm đầu Người tham gia hoạt động cách mạng.

NIỀM HY VỌNG CUỐI ĐỜI CỦA PHAN CHU TRINH

Phan Châu Trinh là nhà yêu nước lớn của Việt Nam đầu thế kỷ XX. Về tuổi tác, Phan Châu Trinh là bậc cha chú của Nguyễn Ái Quốc. Mặc dù giữa hai người có sự khác nhau về phương pháp cứu nước, nhưng đối với Phan Châu Trinh, Nguyễn Ái Quốc luôn một lòng tôn kính. Trong thời gian cả hai người cùng sống ở châu Âu, Phan Châu Trinh ở Pháp; Nguyễn Ái Quốc đã có một số lần viết thư gửi cụ Phan trong thời gian xảy ra Chiến tranh thế giới thứ nhất.

Sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Nguyễn Ái Quốc về hoạt động ở Pa-ri và được cụ Phan Châu Trinh giúp đỡ rất nhiều. Ở Pa-ri lúc đó còn có luật sư Phan Văn Trường. Vào tháng 11/1919, mật thám Pháp có nhận xét về ba người như sau:

“Đa số những người thông ngôn đã nhận xét về Phan Châu Trinh là một nhà cách mạng khôn khéo, Phan Văn Trường là người đã dịch tư tưởng của ông, còn Quốc thì là một nhà nho cộng sự của hai người trên, ít ai biết”.

Sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đời sống ở Pháp rất khó khăn, vất vả. Phan Châu Trinh lúc ấy đã thành thạo nghề thợ chữa ảnh. Mỗi tháng Cụ kiếm được độ 100 quan, nên đã giúp đỡ Nguyễn Ái Quốc.

Nguyễn Ái Quốc được Khánh Ký và cụ Phan Châu Trinh trợ giúp để sinh sống. Nhiều mật báo đã gửi về cho Bộ Thuộc địa Pháp cho biết:

“ Quốc ở nhà của Phan Văn Trường. Sinh sống thì do Khánh Ký và Phan Châu Trinh cấp dưỡng, mỗi tháng không quá 500 Francs”.

Ở Pa-ri, Nguyễn Ái Quốc có tham gia vào việc chuyên chữa ảnh tại xưởng chữa ảnh của Phan Châu Trinh để có thêm tiền tiêu dùng.

Ngoài việc giúp đỡ nói trên, trong thời gian đầu, cụ Phan Châu Trinh còn giúp đỡ Nguyễn Ái Quốc làm quen với những người bạn Pháp.

Tài liệu thư khố cho biết, những người bạn Pháp có cảm tình với Phan Châu Trinh thì cũng trở thành bạn của Nguyễn Ái Quốc. Cụ Phan Châu Trinh đã giới thiệu những người Pháp mà Cụ biết chắc chắn có cảm tình với Việt Nam để những người này có thể giúp đỡ Nguyễn Ái Quốc như Giu-lét Ru, Ma-rin Ma-tel, nhà báo Bác-buýt.

Bác-buýt là người đã vận động Hội Nhân quyền để cứu Phan Châu Trinh thoát án tử hình sau vụ chống thuế 1908.

Ru là nhà Việt Nam học, vào năm 1914, khi cụ Phan Châu Trinh bị bắt đã vận động ráo riết, tìm cách chứng minh cụ Phan Châu Trinh vô tội.

Ma-tel từng chống đối chính sách hà lạm, độc ác của thực dân Pháp ở Đông Dương.

Nhờ cụ Phan Châu Trinh giới thiệu, Nguyễn Ái Quốc đã trở thành bạn của những người nói trên.

Cùng có nhiệt tình yêu nước, cùng có trách nhiệm đối với nhân dân nhưng phương pháp cách mạng của Nguyễn Ái Quốc và cụ Phan Châu Trinh lúc đầu không hoàn toàn giống nhau. Cụ Phan Châu Trinh muốn giữ cương vị của mình là một nhà chí sĩ yêu nước không đảng phái… còn Nguyễn Ái Quốc thì đến với học thuyết Mác-Lênin. Và sau nhiều thất bại, khi đã cảm thấy mình bất cập với thời thế, trong một bức thư đề ngày 18/2/1922 gửi từ Mác-xây cho Nguyễn Ái Quốc ở Pa-ri, cụ Phan Châu Trinh đã chân thành bộc bạch: Tôi tự ví thân tôi như con ngựa già hết nước kiệu, phi nước tế. Thân tôi tựa như chim lồng, cá chậu. Vả lại, cây già thì gió dễ lay, người già thì trí dễ lẫn. Cảnh tôi như hoa sắp tàn, hiềm vì quốc phá gia vong, mà hơi tàn cũng phải gào cho hả, may ra có tỉnh giấc hồn mê…

Và ở cuối thư, cụ Phan Châu Trinh vui mừng viết rằng Nguyễn Ái Quốc “như cây đương lộc, nghị lực có thừa, dày công học hành, lý thuyết tinh thông”. Cụ Phan Châu Trinh tin rằng “không bao lâu nữa cái chủ nghĩa Anh tôn thờ (ý chí chủ nghĩa Mác – Lênin) sẽ thâm căn cố đế (sâu rễ bền gốc) trong đám dân tình chí sĩ nước ta”.

Năm 1925, cụ Phan Châu Trinh về nước và sớm qua đời vào năm 1926. Trong thời gian đó, những đánh giá và niềm tin đối với Nguyễn Ái Quốc của Phan Châu Trinh vẫn nguyên vẹn. Cụ Phan thổ lộ với các đồng chí của mình như Lê Văn Huân, Huỳnh Thúc Kháng trước khi Cụ qua đời rằng “Sự nghiệp độc lập nước nhà trông cậy vào Nguyễn Ái Quốc”. Câu nói này cũng được nhắc lại với lớp người cách mạng trẻ như Trần Huy Liệu, Tôn Quang Phiệt… khi tìm đến hỏi Cụ về vận mệnh của đất nước.

Đám tang cụ Phan Châu Trinh năm 1926

Trong mọi trường hợp, thái độ tôn kính của Nguyễn Ái Quốc đối với cụ Phan Châu Trinh là điều dễ hiểu. Trong tác phẩm Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Trần Dân Tiên cho biết tình cảm của Nguyễn Tất Thành đối với cụ Phan Châu Trinh, khi Anh vui mừng viết thư cho bạn bè: “Tôi đã gặp nhà ái quốc Phan Châu Trinh”. Sau này, khi đã trở thành Chủ tịch nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh – nhớ lại cụ Phan, Người viết: “Cụ Phan Châu Trinh mở trường học, bí mật truyền bá chủ nghĩa yêu nước và công kích bọn cầm quyền Pháp. Vì vậy, Cụ bị kết án tử hình, nhưng được Hội Nhân quyền Pa-ri cứu”.

Tình cảm của Nguyễn Ái Quốc đối với cụ Phan Châu Trinh rất sâu sắc khi Cụ qua đời (1926). Nguyễn Ái Quốc trân trọng đúng mức tinh thần yêu nước của cụ Phan Châu Trinh, đánh giá cao ảnh hưởng của Cụ đối với phong trào cách mạng của đất nước. Nguyễn Ái Quốc viết : “Nhà chí sĩ Phan Châu Trinh, một người thuộc phái quốc gia khác vừa qua đời. 30.000 người An Nam ở khắp xứ Nam Kỳ đã làm lễ an táng theo quốc lễ và khắp nước đã tổ chức lễ truy điệu nhà chí sĩ. Chỉ trong vòng vài ba ngày, một cuộc lạc quyên đã thu được 100.000 đồng. Tất cả học sinh, sinh viên đều để tang Cụ.

Trước phong trào yêu nước của toàn dân, bọn thực dân Pháp sợ hãi, bắt đầu phản công lại. Chúng cấm học sinh để tang và tổ chức lạc quyên. Chúng cấm tổ chức lễ truy điệu, v.v… để phản đối lại, học sinh đã bãi khóa…”.

Ở tác phẩm Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản về phong trào cách mạng ở An Nam, Nguyễn Ái Quốc nhắc lại phong trào cả nước để tang cụ Phan Châu Trinh.

“Năm 1926, có một sự thức tỉnh trong toàn quốc tiếp theo sau cái chết của một nhà quốc gia chủ nghĩa già – Phan Châu Trinh. Khắp trong nước đều tổ chức lễ truy điệu. Chữ “chủ nghĩa quốc gia” từ đó được nói và viết một cách công khai. Những giáo viên Pháp tìm cách ngăn cấm học sinh tham gia các cuộc mít-tinh đó. Nam nữ học sinh ở nhiều trường, đặc biệt là ở Sài Gòn là nơi tổ chức đám tang, đã tuyên bố bãi khóa. 20.000 người đi theo linh cữu, mang biểu ngữ viết những khẩu hiệu có tính chất quốc gia chủ nghĩa. Người An Nam chưa hề được chứng kiến một việc to lớn như vậy bao giờ trong lịch sử.

(*) CĐ.: Cuồng điệt: người cháu hăng say

(theo “117 CHUYỆN KỂ VỀ TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH”
– Ban Tuyên giáo Trung ương)

  1. @ Những mẩu chuyện về Bác Hồ với thiếu niên, nhi đồng

  2. Bác gọi

  3. Bác đã dạy tôi yêu thương con trẻ

  4. Bác Hồ với ba người con đỡ đầu ở Pháp - Đức - Nga

  5. Bác Hồ thưởng huy hiệu của Người cho La Thị Tám, nữ anh hùng tại ngã ba Đồng Lộc

  6. Bác Hồ với vấn đề tiết kiệm trong ngành ngoại giao

  7. Bác Hồ với thương binh, liệt sĩ

  8. Bác không đồng ý với nghị quyết của Bộ Chính trị về tổ chức kỉ niệm ngày sinh của Người

  9. Bác đi thăm rừng Cúc Phương

  10. Bài học dựa vào dân

  11. Bác Hồ với việc sử dụng nhân tài

  12. Bác Hồ với những người làm phim

  13. Bác Hồ đọc sách báo

  14. Bác Hồ và cái Tết ấn tượng

  15. Bác Hồ với Trung thu độc lập đầu tiên

  16. Bác tặng khăn quàng

  17. Bác Hồ với việc học tập và sử dụng tiếng nước ngoài

  18. Bác nắm bàn tay THAN BỤI của chúng tôi

  19. Bác Hồ với chị Lý

  20. Bác Hồ với người làm báo

  21. Bác nhớ các cháu

  22. Bác cũng phải có giấy mà !

  23. Bác Hồ thích ăn món gì nhất

  24. Bác Hồ với Cụ Phan Châu Trinh

  25. Bác Hồ với Cụ Phan Bội Châu - Bức thư Phan Bội Châu gửi Lý Thụy (Nguyễn Ái Quốc)

  26. Bác Hồ với Cụ Huỳnh Thúc Kháng

  27. Bản yêu sách của nhân dân An Nam gửi hội nghị Véc-xây

  28. Ba lần được gặp Bác Hồ

  29. Bữa cơm gia đình

  30. Bài học của thầy mo

  31. Bức tranh thêu Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng đại tá Stephen L. Nordlinger

  32. Các em sạch và ngoan thật!

  33. Cách ứng đáp mẫn tiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh

  34. Cách đọc độc đáo của Bác

  35. Câu lạc bộ Phô Bua, nhà văn Léo Poldes và vở kịch Con rồng tre của Nguyễn Ái Quốc

  36. Câu chuyện về cuốn sổ tiết kiệm của Bác Hồ

  37. Cây xanh bốn mùa

  38. Cây xanh bốn mùa (2)

  39. Cây đào mùa xuân

  40. Câu chuyện về 3 chiếc balô

  41. Câu chuyện về chiếc tàu phá thuỷ lôi mang biệt hiệu T5 và tấm lòng của Bác

  42. chuyện về 3 chiếc ba lô (2)

  43. Chai mật ong Bác tặng

  44. Châu tự do

  45. Chim Hồng dang rộng cánh bay xa

  46. Chiếc máy điều hòa nhiệt độ trong phòng Bác

  47. Chủ tịch Hồ Chí Minh với gia đình Raymond Aubrac

  48. Chú để Bác thuyết minh cho

  49. Chú ngã có đau không

  50. Chúc tết Bác, ngâm thơ Bác

  51. Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp các nhà báo trong thời gian đi thăm nước Pháp năm 1946

  52. Con người vĩ đại

  53. Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin

  54. Có thể cho người nghèo những thứ ấy

  55. Cố gắng giải phóng nhanh để Bác được vào thăm đồng bào miền Nam

  56. Cuộc sống giản dị của Bác ở Phủ Chủ tịch

  57. Củng Hồ biết thuốc giỏi lắm

  58. Cụ khách lạ dễ mến

  59. Dưới gốc đa Tân Trào

  60. Đạo đức người ăn cơm

  61. Đi làm ruộng với nông dân

  62. Đôi dép Bác Hồ

  63. Đường về Pắc Bó

  64. Em Đội viên mắt sáng

  65. Giản dị và tiết kiệm

  66. Gương mẫu tôn trọng luật lệ

  67. Hai lần được gặp Bác

  68. Hồ Chí Minh - Nhà văn hoá lớn

  69. Kỷ niệm Bác trong nhà lao Phú Quốc

  70. Lòng yêu nước, ánh sáng và tinh thần quốc tế

  71. “Lịch sử” ba bộ quần áo của Bác

  72. Màu xanh còn mãi

  73. Mùa xuân nhớ Bác

  74. Một ngày thu không thể quên

  75. Một lần nhớ mãi

  76. Năm ấy Bác Hồ không đi thăm rừng Cúc Phương

  77. Người Công giáo ghi ơn Bác Hồ

  78. Nhà sàn Bác Hồ: Bài học về sự giản dị, tiết kiệm

  79. Nhân cách Bác Hồ

  80. Những kỷ niệm tháng sáu trong cuộc đời hoạt động cách mạng của NAQ - Hồ Chí Minh

  81. Những bữa cơm của Bác Hồ

  82. Những bào thơ xuân của Bác Hồ 40 năm về trước

  83. Nhờ có Bác tôi đã gắn trọn đời mình với Việt Nam

  84. Những đêm giao thừa Bác đến với người nghèo

  85. Nghĩa nặng tình sâu

  86. Những bông hoa trong vườn Bác

  87. Nhớ mãi hình ảnh Bác

  88. Những bài thơ xuân của Bác Hồ

  89. Những ngày ấu thơ hạnh phúc

  90. Người kể chuyện Bác Hồ của bản A La

  91. Những vết mạng trên áo Bác

  92. Nồng nàn tình yêu dân yêu tổ quốc

  93. Quyết giành cho được độc lập

  94. Sinh hoạt giản dị của Bác Hồ

  95. Tài ngoại giao của Bác

  96. Tài ứng khẩu của Bác

  97. Tài sản của dân sao tìm cách đút túi

  98. Tấm huân chương cao quí

  99. Từ một tách cà phê

  100. Thấu hiểu phong tục của dân tộc

  101. Thời gian quí báu lắm !

  102. Tiếng sáo Bác Hồ

  103. Thăm làng gốm bát tràng

  104. Thế mà cũng khoe

  105. Thép Bác Hồ

  106. Tình thương của Bác

  107. Tình cảm lớn lao của Bác Hồ với thương binh

  108. Tôi là người cộng sản như thế này này!

  109. Tự hào là chiến sĩ cảnh vệ của Bác

  110. Vàng là ở hai bàn tay

  111. Vừa đẹp vừa đỡ chói mắt đồng bào

  112. 50 năm Bác Hồ phát động Tết trồng cây

 

 

 

Trở về trang chủ